Làng tiến sĩ nho học họ Đồng ở Chí Linh

Thứ bảy - 27/06/2020 10:58 988 0
Theo sách Chí Linh Phong vật chí, di cảo của Cao Biền có câu:Chí Linh cổ phao, Thủy thâm sơn cao, Long sơn giáng khí, Hổ lực phao giao.Có nghĩa là: Chí Linh cổ phao, Nước thẳm non cao, Núi Long giáng khí, Sức Hổ đổi trao.
Bản đồ huyện Chí Linh trong sách Đồng Khánh dư địa chí
Bản đồ huyện Chí Linh trong sách Đồng Khánh dư địa chí
Đó chính là nói về thế đất ở Chí Linh. Ở đó trên núi có thành cổ vây quanh. Sách sử ký gọi là Chí Linh cổ thành (hay Phao Sơn cổ thành), tức là nơi ấy. Người đời thường kể lại rằng: Thành này xây dựng về đời Vĩnh Lạc triều Minh, đời Trần đã có thành rồi. Đến năm Khang Hựu nhà Mạc, đo đạc lại và mở rộng ra. Thời Tây Sơn, cựu thần nhà Lê đã khởi quân ở đây.
Cũng theo cuốn Chí Linh phong vật chí thì phía đông huyện có năm dãy núi, một dải cát nổi lên như hình chim nhạn, sắc trắng như bạc, chiều dài chừng vài mươi trượng, cao vài thước, người ta gọi là bãi Bạch Nhạn (nhạn trắng), gần trông như bạc, xa trông như nước. Tục truyền người Trung Hoa có câu: “Bạch Nhạn sinh mao, sinh tận anh hào”, nghĩa là: “Nhạn trắng mọc lông, người sinh ra hết thảy đều anh hùng”. Ngôi mộ tổ họ Hoàng xã Kim Đôi, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, táng tại núi này, chính là đối diện với bãi cát ấy. Tại đây kế tiếp sinh được 18 vị tiến sĩ. Gần đây cỏ xanh mọc lên, mười phần chỉ còn ba bốn. Tiệm cận nơi này, có chùa Sùng Nghiêm dựng ở địa phận xã Nam Gián. Thày địa lý bảo đó là: “An Nam quý cục” nghĩa là: “Thế đất quý báu của nước An Nam”. Nếu nhìn tổng quan lấy xã Cổ Bi làm chi giữa, thành Thăng Long làm chi hữu, xã Nam Gián làm chi tả. Phía sau chùa Sùng Nghiêm có một khu phủ lỵ cũ, dựng từ triều Lý, đến triều Trần có tu sửa lại am chùa. Trong hai triều này các hậu phi thường đến đây du ngoạn,…
Chính ở nơi phong thủy hữu tình này, họ Đồng ta đã cư trú ở đây từ lâu đời và tự hào có một “làng tiến sĩ nho học” họ Đồng ở nơi đây, với 6 tiến sĩ nho học họ Đồng ở xã An Xá (Tu Linh) và xã Lý Dương (Triều Dương), tổng Cổ Châu[1] (nay thuộc phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh).
Hai địa danh xã An Xá (Tu Linh) và xã Lý Dương (Triều Dương hay Triền Dương) có nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính quản lý. Vào thời Nguyễn, hai địa danh này thuộc tổng Cổ Châu, huyện Chí Linh.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, Tu Ninh và Lý Dương thuộc xã Nhân Huệ, huyện Chí Linh.
Cuối năm 1980, Trung ương Đảng và Chính phủ có chủ trương xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Chính phủ Quyết định điều chỉnh lại địa giới hành chính của 2 xã Cổ Thành và Nhân Huệ đồng thời thành lập thị trấn Phả Lại. Ngày 16/01/1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 19-CP, đưa các thôn Phao Sơn, Thạch Thuỷ, Bình Giang của xã Cổ Thành, thuộc huyện Chí Linh sáp nhập vào thị trấn Phả Lại và đưa các thôn Cổ Châu, Lý Dương, Đồng Tâm, Hoà Bình và các xóm An Thành, Ninh Giàng, Tu Ninh của xã Nhân Huệ sáp nhập vào xã Cổ Thành. Lúc này, Tu Ninh và Lý Dương thuộc xã Cổ Thành, huyện Chí Linh.
Ngày 10 tháng 1 năm 2019, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 623/NQ-UBTVQH14 về việc nhập 02 đơn vị hành chính cấp xã, thành lập 06 phường thuộc thị xã Chí Linh và thành lập thành phố Chí Linh thuộc tỉnh Hải Dương”. Tu Ninh và Lý Dương trở thành 2 khu dân cư của phường Cổ Thành[2], thành phố Chí Linh.
Theo cuốn sách “Lịch sử đảng bộ xã Nhân Huệ”, dựa vào các bản ngọc phả, thần phả trong xã cho biết: “…vào khoảng những năm 1226 - 1227, họ Đồng đến lập nghiệp ở xóm Dâu, (Triền Dương), tổng Cổ Châu (nay thuộc xã Nhân Huệ)…”. Như vậy, họ Đồng đã đến đay sinh sống từ rất lâu đời. Hiện nay, ở Tu Ninh và Lý Dương (Triều Dương) không có dòng họ Đồng nào sinh sống ở đây cả, nhưng ở các làng xung quanh như: Cổ Châu, Nam Gián, Bình Giang, Phao Sơn thì có rất nhiều người họ Đồng sinh sống.
Vùng đất này rất gần với Lục Đầu Giang- nơi có vị trí đặc biệt bởi sự gặp gỡ của 6 dòng sông (gồm sông Thương, Cầu, Lục Nam, Đuống, Kinh Thầy, Thái Bình). Trong 8 di tích cổ ở Chí Linh (Chí Linh bát cổ), ở đây có Nhạn Loan cổ độ và Phao Sơn cổ thành.
Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16, mảnh đất địa linh nhân kiệt này, đã sản sinh ra 14 vị tiến sỹ, trong đó có 6 vị tiến sỹ là người họ Đồng. Đó là:
STT Họ và tên Sinh trú quán Nay thuộc phường Đỗ năm Tuổi Học vị
1. Đồng Hưng Tạo An Xá
(Tu Ninh)
Cổ Thành Đoan Thái 1
(1586)
41 Đệ tam giáp
Đồng Hưng Tạo (1546 - 1635), người thôn An Xá, xã Tu Linh, huyện Chí Linh (nay là KDC Tu Linh, phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh). Năm 41 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất, niên hiệu Đoan Thái 1(1586), đời vua Lê Thế Tông. Làm quan tới chức Hiến sát sứ.
2. Đồng Hãng Triều Dương
(Lý Dương)
Cổ Thành Quang Bảo 5
(1559)
- Hoàng giáp
Đồng Hãng (1530-?), người xã Triền Dương, cụ là anh ruột tiến sĩ Đồng Đắc, đậu Đệ nhị Giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khóa Kỷ Mùi (1559), niên hiệu Quang Bảo thứ năm, đời vua Mạc Tuyên Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang. Công bộ Thượng thư, sau giáng xuống Thừa Chính sứ.
3. Đồng Đắc Triều Dương
(Lý Dương)
Cổ Thành Sùng Khang 3 (1568) - Đệ tam giáp
Đồng Đắc (1535-?), em ruột tiến sĩ Đồng Hãng, đỗ đệ Tam giáp Tiến sĩ xuất thân năm Mậu Thìn (1568) Mạc Sùng Khang năm thứ 3, Minh Long Khánh năm thứ 2, nhà Mạc mở khoa thi cụ đậu, làm quan đến chức Hộ bộ đô cấp sự trung.
4. Đồng Văn Giáo Triều Dương
(Lý Dương)
Cổ Thành Sùng Khang 12
(1577)
50 Đệ tam giáp
Đồng Văn Giáo[3] (1528-?), năm 50 tuổi cụ mới thi, đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, năm Sùng Khang thứ 10, khóa Đinh Sửu (1577), niên hiệu Thuần Phúc thứ 16, đời vua Mạc Mậu Hợp nhà Mạc, làm quan đến chức Thừa chánh sứ.
5. Đồng Tồn Trạch Triều Dương
(Lý Dương)
Cổ Thành Phúc Thái 4
(1646)
30 Đệ tam giáp
Đồng Tồn Trạch (1617-1692), là cháu nội của tiến sĩ Đồng Đắc và có bác là tiến sĩ Đồng Hãng. Theo Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Phúc Thái năm thứ 4 (1646) ông đỗ Tam Giáp tiến sĩ, đời vua Lê Chân Tông. Sau đó ông vào ứng chế đỗ đầu. Ông được chúa Trịnh Tráng bổ nhiệm làm Đô cấp sự.
Năm 1664 đời Lê Huyền Tông, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Công. Năm 1669 ông được chúa Trịnh Tạc thăng làm Đô ngự sử rồi bị bãi chức.
Năm 1673 đời Lê Gia Tông, ông lại được dùng làm Hữu thị bộ Hình.
Năm 1683 ông làm Thượng thư bộ Hộ, vào làm Tham tụng - Là chức quan cao nhất thời Lê Trịnh, trong phủ chúa Trịnh Căn, tước Nghĩa Trạch hầu.
Năm 1691 khi đã 76 tuổi, ông về hưu. Được hơn 1 năm sau thì ông mất (1692), thọ 77 tuổi, được truy tặng là Thượng thư bộ Lại, Thái bảo, Nghĩa quận công.
Ông từng được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc).
Đồng Tồn Trạch làm đến chức tham tụng (tể tướng), nhưng lại rất thanh liêm. Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" chép rằng: ‘‘Ông cầm quyền 9 năm nhà không có của để thừa, ai cũng khen là trong sạch."
6. Đồng Bỉnh Do Triều Dương
(Lý Dương)
Cổ Thành Chính Hòa 12
(1691)
45 Đệ tam giáp
Tiến sỹ Đồng Bỉnh Do (1647-?), người xã Triền Dương (nay là nay là thôn Lý Dương, xã Nhân Huệ, thành phố Chí Linh) con của tiến sĩ Đồng Tồn Trạch, cháu 4 đời của tiến sĩ Đồng Hãng và tiến sĩ Đồng Đắc.
Năm 45 tuổi, ông đỗ Đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoá Tân Mùi (năm Chính Hòa thứ 12, (1681). Làm quan đến chức Tham chính.
            Như thống kê ở trên, chúng ta có thể thấy một số điều đặc biệt ở “làng tiến sĩ” nho học họ Đồng nơi đây. Đó là:
- Đồng Hãng và Đồng Đắc là 2 anh em đỗ 2 khoa thi liên tiếp.
- Cụ Đồng Văn Giáo là ông nội của cụ  Đồng Tồn Trạch; Đồng Tồn Trạch là cha của Đồng Bỉnh Do: gia đình có 3 đời liền đỗ Đại Khoa.
- Có 5/6 tiến sĩ họ Đồng là các cụ cùng huyết thống đều ở Triều Dương nên thể gọi đó là một gia đình có truyền thống khoa bảng của họ Đồng chúng ta từ (1528-1692).

[1] Vào thời Nguyễn, tổng Cổ Châu ở phía Bắc huyện Chí Linh, gồm 9 xã: 1. Cổ Châu; 2. Nam Gián; 3. Phao Sơn; 4. Phao Tân; 5. Lý Dương. 6. Tu Linh; 7. Chí Linh; 8. Đáp Khê; 9. Linh Giàng.
[2] Phường Cổ Thành hiện nay có 11 khu dân cư: An Ninh; Cổ Châu (từ 1/6/2019 sát nhập KDC Cổ Châu (Dâu) với KDC Cải Cách); Đồng Tâm (Trại Chuối); Hòa Bình; Lý Dương (Triền Dương, Triều Dương); Nam Đoài; Nam Đông (Nam Gián Trang); Ninh Giàng (Gốm); Phao Tân; Thành Lập; Thông Lộc; Tu Ninh (An Xá).
[3] Cụ Đồng Văn Giáo cũng là Tổ họ Đồng xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An – hiện từ đường họ Đồng Nghệ An thờ tiến sỹ Đồng Văn Giáo ghi rõ đỗ tiến sỹ năm 1577- trùng hợp với các tư liệu lịch sử về tiến sĩ Đồng Văn Giáo.

Tác giả bài viết: Đồng Bá Tuyến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây